(Đăng lúc: 28/08/2022 02:54:54 PM)
Tỉnh đoàn Quảng Ngãi In bài  
Kỷ niệm 63 năm ngày khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi (28/8/1959-28/8/2022)
Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đi vào lịch sử, mãi mãi là một trong những mốc son chói lọi trong sự nghiệp chống ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, góp phần làm rạng rỡ truyền thống quê hương núi Ấn, sông Trà.

 

Đồng bào các dân tộc tham gia nổi dậy ở Trà Bồng, Quảng Ngãi, tháng 8/1959.

1. Bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Theo Hiệp định, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc từ Vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị) trở ra hoàn toàn được giải phóng; miền miền Nam từ Vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời giao cho đối phương quản lý, đến giữa năm 1956, hai miền thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà.

Trước Hiệp định Giơnevơ, Quảng Ngãi là tỉnh trong vùng tự do, hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp của Liên khu V, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đông đảo và phong trào quần chúng lớn mạnh. Nhân dân trong tỉnh có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất. Sau Hiệp định,  thế và lực của phong trào cách mạng thay đổi to lớn và đột ngột, từ có chính quyền, có cơ sở đều khắp, có đảng bộ vững mạnh, ta buộc phải bàn giao cho đối phương quản lý, chuyển quân tập kết ra miền Bắc; từ đấu tranh vũ trang, hoạt động công khai chuyển sang đấu tranh chính trị và hoạt động bí mật. Đó là bước ngoặt lớn, làm đảo lộn đời sống chính trị, xã hội của nhân dân miền Tây Quảng Ngãi cũng như của nhân dân Quảng Ngãi và nhân dân miền Nam lúc bấy giờ.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ hất cẳng Pháp, trực tiếp xâm lược Việt Nam. Để thực hiện âm mưu của mình, một nội các bù nhìn thân Mỹ được thành lập do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng. Ngày 08-9-1954, Mỹ thành lập Hiệp ước Đông Nam Á, đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia trong ô bảo hộ của Mỹ. Tháng 4-1955, Mỹ đưa các đoàn cố vấn quân sự vào miền Nam. Âm mưu của Mỹ là tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lấy miền Nam làm căn cứ tiến công miền Bắc, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội tràn xuống Đông Nam Á.

Trong bối cảnh đó, từ cuối năm 1954 đến năm 1958, tình hình cách mạng tỉnh Quảng Ngãi gặp rất nhiều khó khăn. Mỹ - Diệm tập trung khủng bố tàn khốc phong trào cách mạng, gây nhiều tổn thất cho đồng bào ta. Thời kỳ cách mạng mới với những nhiệm vụ vô cùng nặng nề, khó khăn, phức tạp đặt Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi trước những thử thách cực kỳ to lớn.

Trên địa bàn tỉnh, Mỹ - Diệm áp dụng các biện pháp đánh phá riêng cho từng vùng: miền núi là vùng đánh phá trọng điểm, chúng dùng lực lượng quân sự, chủ yếu là Sư đoàn 25 kết hợp với lính bảo an, địa phương quân mở những cuộc hành quân, càn quét lớn; chúng tiến hành thanh lọc chính quyền ở thôn xóm, gạt những người không theo chúng ra khỏi bộ máy, bắt và thủ tiêu cán bộ cách mạng, gây hận thù giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, chúng mua chuộc một số cà rá (tù trưởng, già làng); áp dụng chính sách dùng người dân tộc trị người dân tộc để đánh phá phong trào cách mạng. Ở vùng tranh chấp (giáp ranh), chúng dùng lực lượng bảo an, dân vệ hoạt động ráo riết ngày đêm, phục bắt cán bộ, đánh phá cơ sở. Ở vùng kiểm soát, địch tăng cường các hình thức kìm kẹp, khống chế nhân dân, thực hiện chính sách "tố cộng”, “diệt cộng".

Để đưa phong trào cách mạng tiến lên, năm 1958, Khu ủy Khu V chủ trương xây dựng căn cứ địa, tích cực khôi phục và phát triển cơ sở, tiến tới diệt ác có trọng điểm ở đồng bằng. Thực hiện chủ trương của Khu ủy Khu V, tháng 02-1958, tại trung tâm khu căn cứ Di Ngâu, xã Trà Trung, huyện Trà Bồng, Tỉnh ủy họp bàn chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

2. Diễn biến của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi

Tháng 01-1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II ra Nghị quyết khẳng định: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân... Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân". Nghị quyết 15 giúp lãnh đạo tỉnh nhận thức sâu sắc về mối quan hệ, tác động giữa phong trào ở địa phương với toàn quốc, giữa Việt Nam với quốc tế, làm sáng tỏ nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, cũng như phương pháp cách mạng và sách lược cách mạng của Đảng ta.

Được sự đồng ý của Khu ủy Khu V, ngày 03-3-1959, tại một địa điểm giữa hai thôn Nước Xoay và Cà Nung, xã Trà Thọ, huyện Trà Bồng (nay thuộc huyện Tây Trà), đơn vị vũ trang đầu tiên của Quảng Ngãi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phiên hiệu 339 được thành lập. Ngày 19-8-1959, tại thôn Tà Ngôm, xã Sơn Lập, Sơn Hà, Tỉnh ủy thành lập đơn vị vũ trang thứ hai mang phiên hiệu 89. Khi cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây nổ ra, Tỉnh ủy chỉ đạo thành lập đơn vị vũ trang thứ ba mang phiên hiệu 299, tại thôn Gọi Lát (còn gọi là ngã ba Nước Giáp) thuộc huyện Minh Long, giáp ranh ba huyện Minh Long, Sơn Hà và Ba Tơ. Đây là ba đơn vị vũ trang đầu tiên của Khu V trong kháng chiến chống Mỹ. Đến cuối năm 1959, tỉnh thành lập đơn vị vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, mang phiên hiệu V.9 Ngày 12-12-1959, đơn vị đặc công đầu tiên của tỉnh ra đời.

Về phía địch, Mỹ - Diệm ra sức tuyên truyền, chuẩn bị cho cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn. Mưu đồ của chúng là tổ chức cuộc bầu cử thắng lợi sẽ đánh bật ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Tại miền Tây Quảng Ngãi, địch dùng Sư đoàn 22 càn quét, đánh phá ác liệt, bắt nhân dân phải đi bỏ phiếu.

Tháng 6-1959, Tỉnh ủy Quảng Ngãi triệu tập hội nghị mở rộng để học tập, bàn kế hoạch, biện pháp thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương, chủ trương phá tan cuộc bầu cử của địch với các mức độ: miền núi kiên quyết tẩy chay cuộc bầu cử; đồng bằng kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để phá bầu cử, nếu bị ép buộc phải đi bỏ phiếu thì bỏ phiếu trắng, đồng thời sử dụng các tổ, đội vũ trang đánh vào trụ sở bầu cử, gây rối loạn, tạo cớ để nhân dân tẩy chay bầu cử; riêng vùng cao các huyện Sơn Hà, Trà Bồng kiên quyết không để địch tổ chức bầu cử, nếu bị đàn áp thì phát động quần chúng vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 23-8-1959, địch điều quân lên Trà Bồng, vây ráp các xã và cưỡng bức đồng bào đi học tập bầu cử. Gần đến ngày bầu cử, đồng bào các xã Trà Thủy, Trà Giang tổ chức biểu tình chống Diệm. Địch đe dọa bắn chết, đốt nhà những ai không đi bỏ phiếu. Nhân dân kiên quyết tẩy chay, bỏ nhà vào rừng thực hiện bất hợp tác với địch. Chông, thò được cắm ở các ngả đường.

Ngày 26-8-1959, địch đến xóm Rừng, xã Trà Lãnh, đồng bào các thôn, nóc bí mật cắm chông nơi đóng quân của địch, rồi phóng lửa đốt. Địch phát hiện, hốt hoảng chạy qua Trà Phong, bị ta đánh, chúng lại chạy về Eo Chim.

Ngày 27-8-1959, địch lên Trà Phong, gặp lúc thanh niên trong xã đang đào hầm, địch đánh úp, bắn chết một người và làm bị thương hai người. Tin địch giết người lan rộng khắp huyện Trà Bồng, thổi bùng ngọn lửa căm thù bấy lâu nay đang dồn nén trong lòng nhân dân.

Ngày 28-8-1959, từ mờ sáng, tiếng chiêng cồng, tiếng trống mõ, tiếng thanh viện, tiếng la hét hòa trong tiếng súng từ các làng nổi lên vang dậy khắp núi rừng Trà Bồng, thúc giục đồng bào xuống đường, vây diệt ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi bùng nổ. Nhân dân và lực lượng thanh niên vũ trang các xã Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Khê đồng loạt nổi dậy, vây diệt bọn cảnh sát ác ôn, uy hiếp tinh thần binh lính địch. Vùng cao Trà Bồng bừng bừng khí thế quật khởi, lính địch hốt hoảng trốn vào các thôn, nóc, liền bị ta bao vây, gọi hàng, bắt sống. Những tên ngoan cố phá vây, chạy về Eo Chim và quận lỵ bị các đơn vị vũ trang, các đội du kích với các loại vũ khí tự trang bị như súng, tên, ná, mã tấu, dây trói tù binh bí mật tiến đánh, quân địch tiếp tục tháo chạy. Các đơn vị vũ trang, các đội du kích cùng với nhân dân cắm chông, cài bẫy, rào đường... Địch ở hai đồn Đá Líp, Tà Lạt khiếp sợ, bỏ cả đồn và hòm phiếu, chạy về quận lỵ. Bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở bị đập tan. Các thùng phiếu bị phá bỏ.

Chiều ngày 28-8-1959, nhân dân và lực lượng vũ trang truy lùng bọn ác ôn còn lẩn trốn, đập phá các trụ sở ngụy quyền. Trước khí thế xung thiên của quần chúng cách mạng, địch bỏ đồn Tầm Rung và Nước Vọt. Toàn huyện Trà Bồng, địch chỉ còn đóng ở ba nơi: Eo Chim, Eo Reo, quận lỵ. Ngày 29-8, nhân dân và du kích vây Eo Chim và Eo Reo, phá nguồn nước uống, bắn tên tẩm thuốc độc vào đồn. Ngày 30-8, một đại đội địch đến giải vây cho Eo Chim, đơn vị 339 và các nhóm vũ trang đánh địch, diệt 9 tên, thu giữ 6 khẩu súng. Đêm 30 rạng sáng ngày 31-8, lực lượng khởi nghĩa bao vây đốt lửa quanh đồn, đánh chiêng, trống, thổi tù và uy hiếp địch. Đến trưa ngày 31-8, ta chiếm được Eo Chim, Eo Reo. Đồng bào nổi dậy xóa bỏ các hình thức kìm kẹp của địch ở xung quanh quận lỵ. Trước khí thế của cách mạng, tên quận trưởng và quận phó Trà Bồng trốn chạy về tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Bộ máy ngụy quyền của địch ở Trà Bồng hoàn toàn bị tê liệt. Toàn huyện Trà Bồng được giải phóng. Chính quyền cách mạng ở các xã được thành lập.

Cuộc khởi nghĩa ở Trà Bồng lan nhanh đến các huyện Sơn Hà, gồm cả khu Bảy (Sơn Tây ngày nay), Ba Tơ, Minh Long.

Tại khu Bảy, lính địch ở hai đồn Huy Măng và Bãi Màu bắt ép cử tri phải xuống tận quận lỵ Sơn Hà, cách hai ngày đường đi bộ, để bỏ phiếu bầu cử. Được sự lãnh đạo của Ban cán sự, các xã trưởng (do ta bố trí) cùng nhân dân đấu tranh chống lại, chỉ một số rất ít người ở gần đồn phải đi cho có lệ, còn đại đa số nhân dân ra rẫy, vào rừng không đi bầu cử. Thanh niên các trại bí mật, các tổ du kích cắm chông, gài bẫy khắp nơi và chuẩn bị lực lượng đánh trả địch nếu chúng lùng ráp, khủng bố.

Ngày 30-8-1959, không thấy cử tri các xã vùng cao về quận bỏ phiếu, lại được tin nhân dân Trà Bồng khởi nghĩa, ngụy quyền Sơn Hà điều một đại đội từ quận lỵ lên khu Bảy cùng quân đồn trú tại hai đồn Huy Măng và Bãi Màu khủng bố, đàn áp nhân dân. Ngày 31-8, địch vừa đến xóm Anh Thiết, Sơn Long thì một số tên bị sa bẫy chông, thò. Số còn lại hốt hoảng chạy tán loạn, càng chạy, chúng càng bị xóc chông, thò nhiều hơn. Địch phải khiêng số lính chết và bị thương kéo chạy về quận lỵ Sơn Hà.

Ban cán sự Đảng khu Bảy nhanh chóng lãnh đạo nhân dân đồng loạt nổi dậy, tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, giành quyền làm chủ, triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu chống địch phản kích. Số lính địch ở hai đồn Huy Măng và Bãi Màu bị quần chúng bao vây, cô lập.

Ngày 05-9-1959, địch từ quận lỵ Sơn Hà kéo lên càn quét, đánh phá khu Bảy, nhân dân thực hiện chiến thuật vườn không nhà trống, lực lượng vũ trang bố trí lực lượng phục kích trên tất cả các ngả đường, vừa tấn công, vừa kêu gọi địch đầu hàng, cắt đường tiếp tế lương thực. Nhân dân nổi tù và, trống, mõ làm thanh viện uy hiếp địch. Bọn địch ở hai đồn rối loạn, hoảng hốt, bỏ đồn tháo chạy về quận lỵ Sơn Hà. Khu Bảy hoàn toàn giải phóng, nối liền với căn cứ các huyện miền Tây Quảng Ngãi và phía đông tỉnh Kon Tum.

Ở Minh Long, các xã vùng cao Long Quang, Long An (Thanh An), Long Môn, nhân dân nhanh chóng xóa bỏ ngụy quyền và các hình thức kìm kẹp của địch, tổ chức bố phòng, chuẩn bị chống càn. Các ban tự quản thôn, xã được thiết lập. Một vùng đất đai rộng lớn của huyện Minh Long được giải phóng. Ở khu Ba, huyện Sơn Hà, đại bộ phận đồng bào các xã, thôn đều nổi dậy lật đổ chính quyền địch, lập chính quyền tự quản, làm công tác bố phòng, phát triển chiến tranh du kích chống địch.

Ở Ba Tơ, các xã Ba Lế, Ba Lục, Ba Bích, Ba Nam và một số xã khu Sáu không có chính quyền địch, nhân dân đứng lên lập chính quyền cách mạng. Các xã Ba Liên, Ba Khâm, Ba Lương, Ba Trang, nhân dân nổi dậy diệt ác ôn, đốt cơ quan ngụy quyền xã, thành lập đội du kích, bố phòng, chuẩn bị đánh địch từ huyện Đức Phổ lên. Ở các xã phía bắc là Ba Điền, Ba Gia, Ba Lãnh, Ba Sơn, Ba Lang, nhân dân nổi dậy diệt ác, xóa bỏ ngụy quyền.

Phối hợp với các cuộc nổi dậy mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc vùng cao, ở vùng thấp miền Tây, các nhóm "trả đầu", "bảo vệ dân tộc", các đội vũ trang tuyên truyền mở rộng hoạt động diệt ác, trừ gian, phá vỡ một mảng hệ thống kìm kẹp của địch. Trong quá trình khởi nghĩa, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban cán sự miền Tây thay nhau xuống các vùng trực tiếp chỉ đạo phong trào, giải quyết các tình huống phức tạp, đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi nhanh chóng và vang dội.

Để giữ vững thành quả cuộc khởi nghĩa, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã chủ trương kiên quyết phát động chiến tranh du kích, giữ vững các xã vùng cao, lãnh đạo nhân dân vùng thấp kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, phá thế kìm kẹp của địch.

Ngày 07-9-1959, Sư đoàn 22 ngụy từ các hướng bắc, đông, nam tiến vào Trà Bồng và khu Bảy nhằm tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa. Ý đồ của địch là sẽ hội quân tại xã Trà Phong, phục hồi lại các tổ chức ngụy quyền, ngụy quân, quét sạch cộng sản khỏi miền Tây. Nhưng ngay từ ngày đầu, địch bị nhân dân và các lực lượng vũ trang chặn lại, mãi đến cuối tháng 9 chúng vẫn không tiến lên được, buộc phải rút về chiếm đóng các đồn cũ Eo Chim, Eo Reo, Làng Ngãi, Tà Lạt, Đá Líp. Lực lượng vũ trang, bán vũ trang của ta bám sát địch, tập kích, bắn tỉa. Nhân dân tổ chức cắm chông, gài mang cung, bẫy đá, tên độc làm cho địch càng thêm hốt hoảng, tinh thần chán nản. Kết hợp với đấu tranh vũ trang, các cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào liên tiếp nổ ra. Nhân dân kéo vào nơi đóng quân của địch, vào tận quận lỵ đòi cứu đói, cứu đau, đòi địch phải rút quân ra khỏi miền Tây để đồng bào đi làm rẫy, làm nương kiếm sống.

3. Ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa

Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi là cuộc khởi nghĩa vũ trang sớm nhất ở miền Nam (tháng 8-1959). Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã mở ra một vùng căn cứ giải phóng rộng lớn ở miền Tây Quảng Ngãi kéo dài từ Nam Trà My, Quảng Nam đến Bắc An Lão, Bình Định, góp phần chứng minh sự sáng suốt và đúng đắn của đường lối cách mạng miền Nam do Đảng ta đề xướng.

- Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tiêu biểu cho tinh thần quật khởi của nhân dân ta ở miền núi Khu V vào cuối năm 1959. Thắng lợi của khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam, là sự mở đầu của thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang nhằm lật đổ ách thống trị tàn bạo của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, vì mục tiêu độc lập cho dân tộc và thống nhất cho Tổ quốc. Cuộc khởi nghĩa góp phần thúc đẩy cao trào khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận của nhân dân miền Nam trong những năm 1959 - 1960.

- Đánh dấu một mốc lịch sử lớn của phong trào cách mạng ở Quảng Ngãi, Khu V và cả miền Nam, báo hiệu cho thất bại của đế quốc Mỹ trong chính sách dùng bộ máy tay sai độc tài Ngô Đình Diệm để tiêu diệt phong trào cách mạng bằng chính sách "tố cộng", "diệt cộng". Đồng thời, cuộc khởi nghĩa một lần nữa thể hiện tính tiên phong, đi đầu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi trong đấu tranh cách mạng.

- Sự ra đời của ba đơn vị vũ trang 339, 89 và 299 đầu tiên của tỉnh là nòng cốt bảo vệ thành quả của cuộc khởi nghĩa, là chỗ dựa cho phong trào quần chúng trong tỉnh nói chung và các huyện miền núi nói riêng, chi viện cho chiến trường Liên khu V giai đoạn 1959 - 1960 và trở thành lực lượng chủ lực của quân giải phóng tỉnh Quảng Ngãi.

- Mở ra một thời kỳ mới cho phong trào cách mạng trong tỉnh, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng của Khu V và toàn miền Nam.

Đánh giá về ý nghĩa và tác động của Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, tháng 02-1960, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, đồng chí Võ chí Công – Bí thư Khu ủy V kết luận: “Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi là thắng lợi to lớn, sự chỉ đạo trong, trước và sau khởi nghĩa về căn bản là đúng. Cũng như phong trào chung trong toàn tỉnh, Quảng Ngãi đã đi đúng đường lối, nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, dũng cảm phát động quần chúng khởi nghĩa và tiếp theo đó đã tiến hành chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích để chống lại kẻ thù hung bạo, đã biết vừa tiến hành đấu tranh vũ trang, vừa giữ thế hợp pháp để tạo cho quần chúng đấu tranh chính trị. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng mở đầu trang sử đấu tranh chính trị và vũ trang song song, đó là đỉnh cao nhất của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Ngãi trong thời kỳ bấy giờ, nó là thắng lợi đầu lòng và đột xuất, cổ vũ phong trào chung trong tỉnh, trong Khu phát triển mạnh mẽ”.

4. Bài học kinh nghiệm từ cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi

Thực tiễn đấu tranh cách mạng của tỉnh trong những năm 1954 – 1959 và cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi cho thấy:

- Khi cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới thì việc nhận thức và đánh giá đúng tình hình là điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Phải nhận rõ bản chất hiểm độc, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân mới và kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của chúng, từ đó đề ra phương pháp đấu tranh thích hợp nhằm tập hợp quần chúng đấu tranh, làm thất bại âm mưu đánh phá của địch.

Trong hai năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do nhận thức chưa đầy đủ về việc bảo tồn lực lượng, sự cần thiết phải đấu tranh lâu dài, về chống các hành động phiêu lưu, mạo hiểm, Tỉnh ủy chủ trương không sử dụng vũ trang để đấu tranh chống địch, nên phong trào cách mạng của tỉnh bị động, lúng túng, chịu nhiều tổn thất nặng nề về người và của.

- Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đã nổ ra kịp thời, có chuẩn bị, có lãnh đạo và chỉ huy chặt chẽ, đi đúng đường lối cách mạng, tiếp thu, vận dụng linh hoạt các nội dung cơ bản Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, đóng góp những kinh nghiệm quý báu cho việc thực hiện Nghị quyết 15 ở Nam Trung Bộ.

- Phải luôn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với phong trào, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng; thấu suốt và kiên trì quan điểm bạo lực cách mạng, nỗ lực tìm tòi, thử nghiệm những phương châm, phương thức hoạt động, đấu tranh của tổ chức đảng và quần chúng phù hợp với tình hình mới.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi là thắng lợi của quan điểm dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng; thắng lợi trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, xây dựng khối đoàn kết đồng bào các dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn cho cách mạng.

- Luôn luôn kiên định, phát huy quan điểm cách mạng tiến công, tiến công kẻ thù và tiến công khó khăn, tiến công tư tưởng hữu khuynh trong Đảng và trong quần chúng.

Phát huy tinh thần quật khởi năm xưa, đồng bào các dân tộc ở Trà Bồng luôn đoàn kết, một lòng theo Đảng, Bác Hồ , tích cực lao động sản xuất, xây dựng quê hương. Sau khi sáp nhập 2 huyện, trải qua 2 năm chống chọi với đại dịch COVID- 19, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền cùng sự đoàn kết, nỗ lực của toàn dân, kinh tế xã hội của huyện đã có những chuyển biến tích cực.  Giá  trị sản xuất 6 tháng năm 2022 tăng gần 15% so với cùng kì năm ngoái. Huyện không còn xã đạt dưới 11 tiêu chí NTM, 2 xã về đích nông thôn mới.

 

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Xem tin theo ngày tháng:
410.jpg 409.jpg 408.png 407.png 406.jpg 405.jpg
ÂM NHẠC
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Lượt truy cập:
11,372,107
Đang trực tuyến:
282
Tin xem nhiều